Tôi tìm mẹ, mẹ tôi tên Vĩnh

Kim Lũ, ngày 25/11/2008
Gửi chương trình "Như chưa hề có cuộc chia ly..."

Trong mỗi một cuộc đời, mỗi con người ai cũng có một mái ấm gia đình, có tình thương của cha mẹ, chỉ có một số ít con người như tôi là không có được hạnh phúc đó.

Từ nhỏ tôi lớn lên trong vòng tay mẹ nuôi tại làng Kim Lũ, xã Đô Lương, huyện Ân Thi, Tỉnh Hưng Yên. Khi đó tôi chỉ được nghe dân làng nói tôi là con nuôi xin ở Hà Nội, còn xin ở đâu như thế nào thì không ai được biết. Mẹ nuôi tôi thì giấu kín, hễ thấy ai nói tôi là con nuôi thì bà rất giận, tôi hiểu đó là bà rất thương tôi.

Bà là Nguyễn Thị Lựu, chồng là Lê Văn Trọng bị giặc Pháp bắt đi tù ở Khánh Chủ - Hải Dương, chúng bắt đi làm đá, khi mìn nổ, ông mắt kém không chạy kịp bị đá đè chết. Chồng mất, bà cứ ở vậy nuôi người con trai là Lê Văn Lọc đến năm anh 17 tuổi, tức vào khoảng năm 1961-1962, anh bị tai nạn và mất. Nỗi đau mất chồng sau mất con, bà buồn tủi sống một mình, sau ít tháng thì bà xin được tôi về nuôi.

Từ đó bà chăm sóc, lo lắng cho tôi còn hơn cả bản thân bà, ai cho cái kẹo, múi bưởi bà cũng mang về cho tôi. Mà ngày đó nhà nghèo lắm mỗi bữa chỉ nấu được ba bát cháo, bà cho tôi ăn hai bát còn bà chỉ ăn một bát. Cuộc sống của mẹ con tôi tưởng cứ thế trôi đi, tôi lớn lên mẹ được cậy nhờ, nhưng hoàn cảnh thật trớ trêu, năm 1974 mẹ nuôi tôi lâm bệnh qua đời, lúc ấy tôi mới vào học lớp 5. Trước khi chết mẹ có dặn tôi “Mẹ chết đi thì con sẽ khổ, mẹ đã xin hai bác cho con ở với hai bác và sau này khi lớn lên con hãy đi tìm cha mẹ đẻ của mình. Mẹ cũng không giấu con làm gì nữa, mẹ xin con qua chị của mẹ - bác Hạng ở trên Như Quỳnh và vợ chồng ông Đệ ở trên Hà Nội. Có một người phụ nữ trẻ, chừng 17-18 tuổi đã từng đến đây, mẹ chẳng biết có phải mẹ đẻ của con không, bà ấy đã về đây một lần, người nhỏ nhắn, tóc phi dê. Mẹ không biết chữ nhưng mẹ nghe mọi người nói, bà ấy là Nguyễn Thị Vĩnh làm nghề đan Bến nứa (tức đan len). Bà ấy về đây, nhưng khi ấy mẹ vì sợ mất con nên mẹ không cho bà ấy ăn, hơn nữa họ hàng của mẹ dọa nạt đuổi bà ấy đi và không cho về đây nữa. Phần vì đói, phần vì sợ nên bà ấy đã xách túi ra đi. Mẹ biết giờ này không thể giữ con được nữa rồi, khi mẹ chết con ở với hai bác, lớn lên con hãy xin phép đi tìm cha mẹ đẻ của mình vì không ai thương con bằng cha mẹ”.

Rồi một ngày mùa Thu 07/08/1974 mẹ nuôi tôi đã vĩnh viễn ra đi để lại cho tôi nỗi cút côi trống trải. Trong lúc buồn đau thân tôi chỉ còn là một xác ve, tôi thương mẹ nuôi cực khổ vì tôi mà không được hưởng phúc. Tôi tủi thân cho mình và đã khóc rất nhiều và tôi đã ốm quỵ thật sự. Tôi được hai bác - anh rể và chị gái của mẹ nuôi tôi - đón về nuôi chăm sóc, thuốc thang. Bà con họ hàng và dân làng ai đến thăm tôi cũng khóc, người cho tôi tấm mía, người cho tôi cái bánh.

Tôi cứ nhớ mãi lời mẹ nuôi dặn, nghĩ rằng mẹ đẻ tôi còn cực khổ hơn mình, nên tôi phải sống để đi tìm mẹ và thờ cúng mẹ nuôi. Và, tôi đã dần khỏi bệnh. Được hai bác cho ăn học đến hết cấp II và xin cho vào Viện Kiểm soát - Tòa án Nhân dân tỉnh Hải Hưng. Được ít hôm tôi xin về lý do là sức khỏe yếu. Sau, hai bác lại xin vào nghành Công an cho học chính trị được một tuần thì tôi ốm nên không tiếp tục đi học được nữa. Trở về nhà làm nông dân, tôi luôn canh cánh đi tìm mẹ nhưng sợ làm phiền hai bác nên không dám thưa.

Đến năm 1980, tôi xin phép lấy vợ được hai bác và họ hàng mẹ nuôi đứng ra tổ chức cưới hỏi. Năm 1981, hai bác cho tôi ở riêng và xin đất làm nhà. Lúc này, tôi bàn với vợ về việc đi tìm gia đình bố mẹ đẻ. Chúng tôi rất hiểu nhau, khi yêu tôi đã tâm sự hết về hoàn cảnh của mình và hình như vợ tôi đã lo cho tôi từ trước. Vợ tôi đã chuẩn bị một số tiền cho tôi và đong cho tôi mấy bơ gạo và dặn hết tiền, hết gạo phải về không đói giữa đường thì khổ. Hôm sau, tôi khăn gói lên đường tìm mẹ.

Tôi ra đến Như Quỳnh gặp bà Hạng, chị ruột mẹ nuôi tôi. Tôi hỏi thì bà mắng tôi, bà nói bà chỉ biết mẹ nuôi tôi ở dưới quê chứ không biết ai khác. Nhưng may sao, ở Như Quỳnh hôm ấy có đám cưới, có́ ông Đệ cùng con trai về đó ăn cưới. Tôi cứ ngần ngại không biết có phải ông Đệ này không.

Tôi lại gần một ông cụ hỏi ông Đệ thì ông Cụ cho biết “Ông Đệ là con nuôi bà cụ Hạng”

Lúc này tôi mới mạnh dạn hỏi: “Thưa bác, bác có phải là bác Đệ ở Hà Nội không ạ?”

Ông trả lời “Cháu hỏi bác có việc gì?”

“Cháu được mẹ nuôi cháu nói lúc còn sống, lúc còn nhỏ cháu tên là Nguyễn Đức Chính sau về bà cháu đổi tên là Lê Văn Thạch. Mẹ nuôi cháu nói bà xin cháu qua vợ chồng bác và bà Hạng đây ạ”

Ông ngạc nhiên đôi lát: “Trời thằng Chính, mày còn sống đây sao”. Rồi ông ôm chầm lấy tôi nói trong nước mắt “Bác cứ nghĩ con đã chết rồi chứ làm gì còn, bà giấu bác đến bây giờ sao”

Ông giới thiệu tôi với con trai mình: “Đây là anh Chính, ngày xưa mẹ nó bỏ ở nhà mình, ba mẹ nuôi rồi cho anh về dưới bà dì - em ruột của bà Hạng đây nuôi”.

Chúng Tôi chào hỏi nhau và trò chuyện. Sau đám cưới, ông Đệ và con trai mời tôi về Hà Nội chơi và đó cũng là ước muốn của tôi. Tôi nghĩ đây là chìa khóa mở ra cánh cửa đi tìm mẹ.

Ra tới nhà ông, tại số 28 ngõ 357 Bạch Mai, Hà Nội, tôi được vợ chồng ông Đệ kể lại rằng: “Ngày đó - khoảng năm 1961 hay 1962 - có một người phụ nữ trẻ tên là Vĩnh mang cháu đến gởi ở nhà vợ chồng bác để đi làm than thuê, hoặc đi làm việc khác để kiếm ăn. Tối làm về thì đón cháu qua ngủ nhờ nhà bà Năm Điếc ở ngõ Vạn Thái. Thường ngày cứ thế được một thời gian dài, nhưng lần cuối bà đến gởi cháu mà mấy ngày không thấy về, vợ chồng bác sợ quá. Nghĩ rằng là mẹ cháu bỏ cháu đi, lúc ấy bà dì em của mẹ nuôi ông Đệ – bà Lựu ấy - con trai vừa tai nạn chết nên bà muốn xin một đứa con nuôi. Lập tức vợ chồng bác chuyển cháu về dưới bà Hạng ở Như Quỳnh và đưa về quê cho mẹ nuôi cháu.

Ông Đệ kể tiếp “Mấy hôm sau, bà Vĩnh quay về nhà bác xin con thì bác đã cho cháu đi rồi. Bà khóc lóc xin vợ chồng ông bác cho biết địa chỉ bà Lựu ở dưới quê, thấy thảm thương quá vợ chồng ông bác đưa cho địa chỉ. Bà Vĩnh - mẹ cháu đấy - đã tìm đường về dưới Hưng Yên thì bà Hạng trên Như Quỳnh xuống mắng cho một trận, hơn nữa mẹ nuôi cháu sợ mất cháu nên không cho ăn, họ hàng mẹ nuôi cháu lại dọa nạt và cho 50 đồng để đi và cấm không bao giờ được về nữa.”

Lúc ấy, tôi mới hiểu được nỗi đau xót của người mẹ mất con, nỗi khổ của người đàn bà khi rơi vào hoàn cảnh nhìn con mà không được mang con theo.

Tôi càng quyết tâm tìm mẹ hơn.

Tôi nhờ vợ chồng ông Đệ cho biết tất cả các địa chỉ mà mẹ tôi có thể đến, tôi lần mò tới tận nơi nhưng tất cả mọi người đều không ai biết.

Bà Dung (vợ ông Đệ) có cho tôi biết là đến năm 1966, bà có gặp lại mẹ tôi lần nữa ở bệnh viện Thanh Nhàn. Hà Nội. Khi ấy, bà Vĩnh mới nói tôi là con đẻ của bà, còn trước chỉ nói là xin tôi về nuôi và từ đó vợ chồng ông Đệ không còn gặp mẹ tôi nữa.

Vì không muốn làm phiền vợ chồng ông Đệ nhiều, tôi ở đấy hai ngày, xin phép về, nhưng thực ra tôi lang thang ra ngoài đi tìm mẹ. Tôi đến bệnh viện Thanh Nhàn, đi dọc ngang khắp phố Bạch Mai, Khâm Thiên hỏi thăm nhưng không ai biết. Ngày thứ năm tôi hết cả tiền lẫn gạo chỉ còn tiền đi ô tô về.

Tôi ức quá, đi giữa mưa mà khóc.

Tôi quyết định ở thêm một ngày, ăn hết số tiền đi ô tô về vẫn không được tin tức gì. Tôi thẫn thờ đi bộ về đến chân cầu Long Biên, đói quá, thấy người ta vứt những quả cam thối ở rìa đường, tôi nhặt lên ăn, trời tối, không ai nhìn thấy.

Tôi đi bộ hơn bốn mươi cây số về đến nhà thì đã 5 giờ sáng. Tôi bị một trận ốm thập tử nhất sinh. Hơn ba tháng sau, khỏi bệnh, tôi lại lên đường tìm mẹ.

Lang thang khắp bờ đê, gầm cầu đến lều láng, nơi nào tôi cũng hỏi. Tôi sợ mẹ tôi đi ăn xin. Mà dù có phải mẹ tôi đi ăn xin tôi cũng dắt mẹ tôi cùng đi. Ngày thứ ba cũng chẳng có tin tức gì, lúc ấy tôi đang ở phố Trần Nhật Duật, lại hết cả tiền lẫn gạo. Bụng thì đói.

May sao tôi nhìn thấy một bác nhà quê bán bánh mì, tôi đến gần thưa toàn bộ sự việc và xin bác đổi cho chiếc mũ lá trên đầu để lấy chiếc bánh mì. Bác khóc, tôi cũng khóc. Bác đưa tôi chiếc bánh mì mà nước mắt tôi chan vào bánh.

Vâng, từ đó đến nay tôi vẫn đi tìm mẹ, không biết mẹ có hiểu cho tôi không.


Ảnh: Gia đình anh Lê Văn Thạch (tức Nguyễn Đức Chính)

Giờ thì vợ chồng tôi làm kinh tế trang trại, chúng tôi sinh được 3 cháu, hai trai, một gái, cháu lớn đã xây dựng gia đình Chúng tôi đã có cháu nội được hơn một năm, cháu sinh ngày 14.06.2006 tức ngày 19.05.2006 âm lịch, chúng tôi đặt tên cháu là Lê Vĩnh Quốc. Lê là dòng họ của bố nuôi, Vĩnh là tên người mẹ đẻ tôi, Quốc là suốt đời tận trung với đất nước.

Những dòng tâm sự trên chưa nói hết nổi khổ của một con người, khắc khoải chờ mong ngày gặp lại được mẹ. Nước mắt của một đêm trắng tâm sự, tôi mong các anh chị và các bạn giúp tôi tìm được mẹ và những người thân.

Kính thư,
Lê Văn Thạch
(Ân Thi – Hưng Yên)

"Như chưa hề có cuộc chia ly..." số 04

Chương trình đầu tiên của năm Mậy Tý, cũng sẽ là những cuộc đoàn tụ ấm áp, cũng vẫn có những hoàn cảnh chia ly được "lên tiếng".

Có hai cuộc đoàn tụ được viết tiếp từ những câu chuyện các số trước! Và một cuộc đoàn tụ của một người phụ nữ đi tìm cha, chị và em gái đã gần 30 năm.

Mời quý vị và các bạn đón xem lại chương trình "Như chưa hề có cuộc chia ly..." số 4, trực tiếp trên VTV1 từ 20 đến 21h, ngày 1.3.2008, để cùng đồng cảm và chia sẻ với những người thất lạc thân nhân. Và biết đâu đấy, bạn sẽ là người kết nối được những số phận khác còn đang chia ly. Và cũng có thể lắm, bạn là người mà ai đó đang đi tìm.

Xem "Như chưa hề có cuộc chia ly..." số 03



>>xem từng phần

  © Blogger template 'A Click Apart' by Ourblogtemplates.com 2008

Back to TOP