Như chưa hề có cuộc chia ly…" - số 03

Xin được gửi lời chúc AN KHANG – THỊNH VƯỢNG đến với mọi người nhân dịp xuân mới đến.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu lịch phát sóng Chương trình "Như chưa hề có cuộc chia ly…" - số 03:

:: Phát sóng trên VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam Thời gian: 20-21h, ngày 02 tháng 02 năm 2008 (tức 8-9h tối thứ Bảy đầu tiên của tháng 2).

:: Phát lại vào 14h55' ngày 08 tháng 02 năm 2008 (thứ Sáu tuần kế tiếp).

Hướng dẫn đăng ký tìm người thân

Mẫu đăng ký & bản cam kết thông tin: >>click để tải về máy của bạn

Để được sự hỗ trợ từ phía dự án "Như chưa hề có cuộc chia ly ..." trong việc tìm người thân thất lạc, xin bạn vui lòng điền thông tin vào Bản đăng ký tìm kiếm và Bản cam kết thông tin của chương trình. Sau đó: gửi thư qua đường bưu điện về địa chỉ:

Chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly…”
Hòm thư 005
Bưu điện Trung tâm Sài Gòn
Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam


Bạn cũng vui lòng gửi một bản qua email trước cho chúng tôi về: timnguoithan@haylentieng.vn

Xin lưu ý:
+Dùng tiếng Việt có dấu khi điền thông tin.
+Cung cấp ảnh, tư liệu liên quan đến người cần tìm (nếu có).
+Và ảnh của chính bạn, gia đình người thân có liên quan, càng gần thời điểm thất lạc người thân càng tốt.
+ Bởi số lượng đăng ký tìm người thân là rất nhiều, nên chúng tôi sẽ không gửi trả lại những tài liệu bạn đã cung cấp cho chương trình, bạn vui lòng gửi bản sao.
+ Sau khi gửi, để kiểm tra việc thư đã đến chương trình hay chưa, xin vui lòng gọi theo số 08-39315458

### Nếu cách đăng ký trên đây quá phức tạp hoặc gặp rắc rối, quý vị và các bạn chỉ cần viết một bức thư tay kể rõ về hoàn cảnh của người thất lạc, những người thân có liên quan, lý do thất lạc, những kỷ niệm, ... gia đình đã tìm kiếm lần nào chưa? có được những thông tin gì mới? ....

Nhớ gửi kèm về cho chương trình những hình ảnh, tài liệu liên quan đến người thân đang cần tìm, ảnh của chính bản thân quý vị, của người thân liên quan đến người thất lạc

Gửi về địa chỉ của chương trình như trên, đừng quên địa chỉ và số điện thoại để chương trình liên hệ lại.

Mọi thông tin thắc mắc, vui lòng liên hệ đường dây nóng: (08)39315458, hoặc email: timnguoithan@haylentieng.vn

Ảnh tuần này: 100 tuổi!

100 tuổi! ...

... và cũng ngần ấy năm cụ Nguyễn Thị Chơi xa cách những người thân thích của mình।Mấy chục năm bươn chải, sinh sống đây đó cụ vẫn không xây được cho mình một tổ ấm, để rồi đến khi tuổi đã già cụ phải nương nhờ trung tâm BTXH Chánh Phú Hoà। Dẫu vậy cụ vẫn cho rằng cuộc đời mình là hạnh phúc!

Như chưa hề có cuộc chia ly... số 02



>>xem từng phần

Rượu Hồng Đào

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say...

Không biết người xứ Quảng say trong những chén rượu Hồng Đào đến nối họ quên mất là mình uống thứ rượu gì, mà có dạo người ta kéo nhau lên báo để bàn cái về chuyện có hay không loại "rượu Hồng Đào".

Hay vì "cãi" là tính cách vốn có trong mỗi con người nơi đây, như câu ca dao đúc kết lại,
Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo
Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết...

Nhưng dù gì đi nữa, dù rượu Hồng đào chỉ là phút ngẫu hững của ai đó khi muốn làm một vế đối hoàn chỉnh, có quảng Nam thì phải có rượu Hồng Đào. Thì những người dân chân chất của đất Quảng Nam vẫn có bí quyết riêng để tạo ra thứ rượu dân dã, và tội gì lại không mượn cái tên mỹ miều và mời gọi để đặt tên cho thứ rượu mình làm ra: Hồng đào.

Đất Quảng, cái xứ cả năm báo chí nhắc tới không có mấy tin hay, chỉ toàn về những cơn bão kinh hoàng của vùng nhiệt đới. Thiên nhiên khắc nghiệt đã góp phần tạc nên những tính cách mà người vùng miền khác gọi là khô khô, hanh hanh như thời tiết vùng này.

Ngồi bên thềm nhà nhìn ra cửa biển, cái nắng trưa oi nồng lẫn vị mặn từ ngoài biển xa thổi vào, ông cụ như một chủ thể để bất cứ một nhà nhiếp ảnh nào dù là nghiệp dư cũng có thể khai thác. Cái nhìn khắc khoải, trầm ngâm như một hình ảnh "truyền thống" của những người con người miền biển.

"Mi đi lâu rứa mới về, ngồi uống với tao cái hỉ". Cái giọng khô như nắng chiều của ông cụ gọi tôi, Ông nhớ mặt tôi, bởi hồi đó tôi thường chạy qua chơi với cậu con trai út nhà ông.

Chén rượu trắng được rót ra từ cái chai, vốn là cái vỏ bia Sài Gòn màu đỏ nâu, cụ mua về từ nhà chị Mắm (không có ý xúc phạm gì, cái tên này tụi trẻ ở cái xóm chài này hồi xưa chúng tôi vẫn gọi là chị Mắm, vì chị gầy lắm, mẹ chị vẫn gọi vậy mà). Hồi trước nhà chị làm cá cơm phơi khô, cái dáng người gầy guộc đảo mình trong nắng bên những bạt trải đầy cá cơm, lũ trẻ con chúng tôi chạy qua lại vô tư chọc "chị Mắm ơi sao chưa lấy chồng"! Đừng nghĩ chị hiền dịu mà cười bỏ qua, trăm lần, lần nào chị cũng chống tay chửi bằng những từ rất Quảng. Còn giờ đây, chị Mắm nấu rượu, bán rượu. Và những người như ông cụ gọi là rượu Hồng Đào..

Cụ lân la hỏi chuyện gần, chuyện xa, thi thoảng lại nhắc lại những chuyện cũ, mà đa phần là tôi cũng không biết. Xa cái miền cát trắng, mỗi hạt cát mịn như hạt muối xay, đã được 23 năm. Những ký ức trong tôi về nơi này là những hình ảnh của một đứa trẻ tuổi lên 12. Mà cũng có gì đâu để nhớ nhiều. Tứ bề, thì có hai bề là biển xanh, hai bề còn lgại là những cánh đồng còi cọc, một chút xanh leo lét trong cái trắng của cát. Trên cao không trời xanh gắt thì cũng là những đám mây đen hãi hùng của những đợt biển nổi gió.

Nè, mày nhìn bàn thờ xem. Thằng Tuấn nhà ni, nó đi trước cả tao. Nó đi thuyền giỏi dữ lắm, vậy mà cũng bị biển đưa đi. Nó mới đi cách đây 2 đợt báo đó. Vợ nó ban ngày thì đi làm cá thuê cho họ, đêm về thì ra ngồi chờ trước biển đợi nó về, mà nó có thèm về đâu.

Vợ Tuấn cũng chẳng phải xa lạ lắm, Thúy chứ ai. Tôi, Thúy và nó (Tuấn) chơi thân với nhau từ nhỏ, bởi nhà ba đứa liền kề nhau. Nhưng lúc nãy gặp Thúy ngoài bãi cá khô thì tôi không thể nhận ra ngay được, rám nắng và đen hẳn so với hồi con gái 16, lúc mà nhà tôi rời nơi này vào tỉnh lị. Tin Tuấn mất tôi cũng đã biết từ mẹ tôi, sau lần bà về thăm quê.

Già nhanh thật, phải không mày!
Ai ạ? buột miệng tôi thốt lên khi nghe ông cụ hỏi.
Thì vợ thằng Tuấn, Thúy đó. Tội nó, mới ba mấy mà đã góa rồi. Tao có an ủi nó đi lấy thằng nào đi cho đỡ nhọc. Nó chỉ khóc. Mà cũng còn thằng đàn ông nào trong xóm phải lứa với nó mà độc thân đâu. Năm về trên đất được mấy bận rồi lũ nó lại đi. Đi về biển hết rồi, sống cũng đi, chết cũng đi.

Tẩn ngẩn những câu chuyện không đầu không đuôi, chén rượu Hồng Đào của ông cụ vẫn chưa đưa được lên môi. Cõ lẽ đã lâu rồi ông không nhâm nhi cùng ai, không còn thằng Tuấn về kể cho ông những chiến công, những lúc vượt qua những cơn giông mà tử thần giăng lên ở biển khơi mịt mùng ... Những câu chuyện mà hồi còn nhỏ tôi vẫn thường ngồi nghe ké mấy anh trai trong xóm chài kể sau những chuyến đi dài ngày.

Mẹ tôi ngày trước cũng hay đi nghe ké bà con lối xóm và về kháo chuyện với ba tôi, ba tôi không đi biển, ông đi làm xa trên tỉnh cuối tuần về một lần. Mỗi lần có giông bão mẹ tôi cùng tôi đều chạy theo chân những người phụ nữ có chồng con đi biển ra ngoài "bãi đợi". Cái bãi ấy chẳng biết nó mang cái tên "bãi đợi" từ thuở nào, chỉ biết nó là nơi chứng kiến nhiều nhất những vui và buồn, hạnh phúc và khổ đau của cả làng chài này.

Và Thúy, Thúy cũng ra đợi Tuấn nơi này như những người đàn bà khác có chồng đi biển. Đã có người đàn bà góa điên, góa dại vì đợi chờ, vì hy vọng. Hy vọng lúc biển bình yên sẽ thấy chồng, thấy con quay thuyền về. Mà đã bao nhiêu đêm Thúy ngồi đợi!?. Thúy đợi, đợi cho đến sáng, đợi cho đến phờ phạc thân xác, đợi đến nỗi soi gương Thúy cũng không nhận ra mình sao. Mà đợi như vậy thì liệu Thúy có đợi đến già được không nhỉ?.
Thúy không buồn nói chuyện, gặp lại tôi thúy chỉ khẽ gật đầu. Cái ánh mắt tôi gặp hồi chớm trưa, một cái nhìn sâu, sâu lắm.



Chiều nay tôi đi biển, đi ra cái đỉnh núi chôn chân mình dưới biển, chỉ nhô cái phần đầu lên khỏi mép nước mười mấy thước. Cụ bảo cụ nhớ nó, nhớ cái hòn đảo nhỏ nhỏ ấy, nhưng cụ không dám ra đó một mình vì già rồi. Hôm nay tôi về cụ rủ tôi ra.

Đã bao lâu rồi cụ chưa ngồi lên con thuyền này, những chỗ ghép ván đã có khe hở. Vừa đẩy ra đến mép nước đã thấy vài chỗ nước rỉ vào trong, thế là cụ lật đật chạy vào kiếm nhựa đường ra đắp. Còn tôi cũng theo cụ vào mang cái đèn pin và cần câu cái lưới giăng cũ, cụ bảo ra đến đảo giăng vài con cá nhỏ về tối lai rai. Chắp vá xong con thuyền lúc mặt trời cũng đã nằm nghiêng về phía trời Tây.

Tôi chèo chống không giỏi gì, có mấy lần duy nhất được ngồi trên chiếc thuyền thúng cùng máy đứa bạn mà từ hồi còn nhỏ kia. Sau một hồi giành mái chèo mà con thuyền cứ lòng vòng qua bên trái rồi lại bên phải tôi đành để cụ chèo. Đẩy cho tôi cái đòn (cái ghế nhỏ), ông cụ ngồi thoắt lên đầu mui thuyền. Cụ vẫn còn khỏe, hay vì nếp da trần đỏ nâu dưới nắng làm tôi nghĩ vậy. Con thuyền nhẹ lướt đi, hướng về phía hòn đảo nhỏ.

Biển lặng, lặng lắm. Vì gió chưa về rủ những con sóng ngầm nổi lên. Và dân làng chài yêu biển những lúc này. Giá như lúc nào biển cũng bình yên như thế.

Phút ngẫu hững ấy, ông cụ bỗng buột miệng hò, câu hò quen thuộc của người dân chài xứ Quảng. Thú thật ông hò không hay, không hay một chút nào bởi cái giọng khô khan lẫn trong cái mùi nước biển nồng nồng ngây ngấy ấy, nhưng tôi lại thấy mủi lòng. Như cảm thấy đôi mắt đen nháy của ông nhíu lại vì ánh nắng chiếu ngược như đang muốn khóc …

Rồi con thuyền cũng gần cập vào hòn đảo nhỏ, ông cụ nhanh tay thả lưới xuống gần bờ. Những đường rêu xỉn màu chạy dọc theo lối mòn trên đá tổ ong. Nơi đây có vẻ không có mấy người đặt chân đến. Bàn chân chai sần của ông cụ như không còn cảm giác với những vết cứa nhỏ của đá xám kia. Ông vẫn bước đi nhanh, len vào khe đá phía trong, tôi đoán chắc ông đang đi tìm cái gì đó. Không buồn hỏi, chỉ chú mắt xuống dưới chân theo bước ông cụ.

Tiếng gió thổi lèn vào trong những khe đá hẹp rồi đi ra cùng với những tiếng rít nhẹ, đôi khi cũng khiến rùng cả người.

Chết, chết rồi … Tiếng ông cụ kêu lên thất thần làm tôi suýt té.
Gì vậy cụ.
Cái cây!.

Ông lão chỉ vào cây mận bị đổ trước mặt, cái gốc nó bị bật lên khỏi lớp đất mỏng, rễ bị đứt đoạn để lại một phần dưới những khe đá, lá đã ngả màu vàng úa gần hết.
Đứng đờ người một hồi lâu ông cụ mới nói được.
Mới hồi trước đợt bão thằng Tuấn nó còn mang mấy quả mận về cho tao. Nó quý cái cây này lắm đó, vì đó là cái cây mà nó trồng lên từ lần đầu tiên nó ra đây cùng tao.
Giờ tôi mới hiểu những trái mận bí mật mà có lần Tuấn mang khoe với tôi hồi ấy chính là từ cái cây này. Ngồi bệt xuống bên gốc cây ông cụ tiếp tục câu chuyện bằng giọng buồn buồn… có lúc nghe sao…

Khi cái cây nẩy mầm, mỗi khi biết tao ra đảo này nó đều đi đào một bao đất để mang ra đây vun vào rễ cây. Nó chăm cái cây lắm. Sau những lần bão nó đều đòi ra để xem cái cây có bị sao không.

Chắc cái cây bị quật ngã cùng trong đợt bão thằng Tuấn mất tích, đã bao nhiêu giông bão mà cái cây chưa hề một lần nghiêng. Nhưng đợt rồi bão lớn dữ lắm….
Cõ lẽ đó là lần đầu tiên nó không ra đây để xem cái cây có bị giông bão quật đổ hay không?

Ông cụ bỗng đứng bật người dậy đi về phía hốc đá gần đó, hình như có mảnh vải …
Gì nữa vậy cụ?!
Cái áo của thằng Tuấn mi ạh…
Ông cầm lên cái áo màu xanh xám bạc thếch, xỉn màu vì nắng gió và mồi hôi của người đi biển …
Chắc thằng Tuấn cởi ra vứt đây để treo lên cây hái quả, cái thằng ni ….
Ánh mắt ông cụ cũng đã vội quay đi phía khác để che giấu giọt nước mắt đang khẽ lăn ra trong khóe mắt. Tay ông nắm chặt cái áo …
Tôi đã muốn ôm chầm lấy ông mà khóc cùng ông, bởi tôi cũng nhớ Tuấn, thằng bạn chí côt một thời của tôi…
Chỉ còn lại những tiếng bịt bùng bên tai, tiếng gió rít, tiếng nấc khô của ông hay tiếng Tuấn vọng về thì thầm với ông điều gì mà tôi không biết…


….
Ta đi nhấc lưới rồi về chứ cụ...

Ánh sáng đã nhá nhem đôi ít trong cái hẻm đá này, tôi cố nói điều gì giục ông khỏi cái cảm giác buồn não lòng ấy. Ông thẫn thờ bật đèn pin lên soi xuống mặt đá, nhặt lên một hột mận khô, ông vùi nó xuống đống đất gần nơi gốc cây bị bật lên. Vâng, tôi biết ông đang hy vọng… hy vọng cái cây nó sẽ lớn nhanh để thay cái cây đã đổ. Để ông còn được ra thăm nó … Tôi hiểu ông cũng hy vọng, hy vọng ở một nơi nào đó giữa biển khơi xa xa kia Tuấn vẫn còn sống, trên một hòn đảo hoang cũng được… để một ngày nào ông sẽ ra đón… Và ông, ông không ngóng đợi cho riêng ông, ông ngóng đợi cho cả người con dâu bất hạnh. Mà biết đâu giờ này Thúy cũng đang ngồi ngoài “bãi đợi”.

Chiếc thuyền mộc rời hòn đảo cùng vài con cá nhỏ. Ông cụ lại ngồi lên mui thuyền, cúi xuống dưới gầm lấy chai rượu, rượu Hồng đào. Không ly, không chén, ông uống một ngụm rồi đưa tôi. Cái vị cay xè the the đầu lưỡi thẫm vào máu.

Lạnh, một chút lạnh trong gió biển đến ngang qua.


Nguyên Liên (ký sự một lần ghé về làng chài cũ)
(Nhưng từ địa phương trong bài này đã được chuyển gần hết qua tiếng Việt chuẩn)

Bạn đã thấy tẩm biển đó chưa?

Cụ Nga đấm lưng cho cụ Nguyễn Thị Chơi mỗi khi mỏi!

Gặp cụ bà 100 tuổi (theo lời khai của cụ), là một người trước đây sống cuộc đời làm thuê trên thành phố, nay chỗ này, mai chỗ khác. Cụ tên Nguyễn Thị Chơi. Cụ có nói vui, tôi tên Chơi, chứ tôi cũng mần giữ lắm, trước đây tui đi phụ người ta trên Tp, người ta thương tui giữ lắm.
Hỏi sao cụ không lấy chồng, cụ nói “lấy chồng về cho họ đánh đập mình ah?, ở vậy sướng hơn”. Khi hỏi là cụ có cảm thấy thoải mái khi sống ở đây không, cụ chỉ cười và nhìn chú Liêm, cụ tuy là người già nhất trong trung tâm nhưng cụ vẫn vui vẻ và hoạt bát, cụ nói rất nhiều.

Khi chúng tôi chuẩn bị rời trung tâm thì cũng là lúc bữa cơm chiều được dọn ra. Một bữa cơm đạm bạc: tô cơm, rau muống luộc và đĩa cải xào chỉ có vài con tôm nhỏ. Ngoài bữa này, nếu khi nào ai đói đều có thể được nấu cho một gói cháo ăn liền hoặc mì tôm.

Dọn cơm!!!

Với họ, những trại viên đang sống ở đây, cuộc sống chỉ loanh quanh đi lại trong trung tâm này. Nhưng họ vẫn sống và quan tâm đến nhau, mong chờ những niềm vui nho nhỏ. Thỉnh thoảng có các nhà hảo tâm đến thăm nom và nấu ăn cho (bánh canh, chè…) hoặc cho tiền để các cụ có thể đi căn tin trong trại mua ít đồ ăn.

Đợi!!! - đâu phải chiều nay cụ mới ngồi đợi thế này

Có một ngôi chùa nhỏ trong khuôn viên trại, nơi này dành cho cả trại viên và những người dân thường bên ngoài đến. Những trại viên mất ở đây được đưa đi hỏa táng ở Bình Hưng Hòa – HCM và sau đó đưa tro vào đặt trong ngôi chùa này. Với họ, cuộc đời đã gắn bó với trung tâm như một định mệnh.

Con đường nội tỉnh buổi chiều chúng tôi về mới kịp bấm máy ghi lại. Tấm biển màu xanh nhỏ khuất dưới những đám cây dại có ghi dòng chữ “Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Chánh Phú Hòa”, “đi vào 1000m”.
Bạn đã thấy tấm biển đó chưa?

Trời mưa!. Bến Cát, Bình Dương, 21/12/2007.
... tiếp
Nguyên Liên

Một nơi có đến hơn 1000 người không biết thân nhân ...

Chúng tôi ghé đến trung tâm bảo trợ xã hội Chánh Phú Hòa trong một chuyến công tác. Nơi này thuộc quản lý của Ủy Ban Lao Động và thương binh xã hội TP.HCM nhưng lại nằm trên địa phận tỉnh Bình Dương, trung tâm cách Tp.HCM khoảng hơn trăm cây số về phía Tây. Địa chỉ của trung tâm là thôn 1B Bến Cát, từ con đường tỉnh lộ chạy vào trung tâm là con đường đất đỏ lầy lội, hai bên là rừng cây cao su xanh. Ngỡ tưởng nơi này chỉ là một trung tâm nhỏ nên mới nằm trong sâu như vậy. Nhưng khi đến nơi mới thấy khuôn viên của trung tâm khá rộng. Xung quanh là cây cao su của người dân quanh đấy.

Trung tâm được thành lập từ năm 1978, lúc ban đầu chỉ có chức năng là bảo trợ người già, sau đó là thêm người tàn tật, và giờ là cả trẻ em và những người vô gia cư. Gần 30 năm có mặt, nơi này đã trở thành ngôi nhà của rất nhiều người, có thể họ chỉ vào đây trong một thời gian ngẳn ngủi do thất lạc chưa tìm được đường về với gia đình, nhưng không ít người đã sống ở đây từ những ngày đầu thành lập trung tâm.



Tiếp xúc với một cụ già trạc độ hơn 60, sức khỏe của cụ vẫn còn tốt, cụ đã vào đây từ khi còn trẻ và là một trong những trại viên gắn bó với trung tâm lâu nhất. Trước đó cụ lang thang khắp đất Sài Thành khi mới giải phóng, cuộc sống trôi dạt không nhà cửa. Rồi cụ đã được công an phường gửi đến nơi đây. Và cụ xem đây là ngôi nhà của mình. Hằng ngày cụ giúp đỡ các cán bộ nhân viên trong trại chăm sóc cho các cụ già ốm yếu không có khả năng tự chăm sóc mình.

Trung tâm hiện tại có hơn 1200 trại viên và 90 cán bộ công nhân viên, một cơ sở bảo trợ khá lớn so với các trung tâm bảo trợ xã hội khác. Nhưng các cơ quan truyền thông vẫn chưa quan tâm đến việc giúp trung tâm huy động các nguồn trợ cấp. Thành lập đã gần 30 năm nhưng mới chỉ có một lần đài truyền hình tỉnh Bình Dương xuống thực hiện phóng sự và báo Người Lao Động có đưa tin. Nguồn trợ cấp chính cho những trại viên ở đây vẫn là trợ cấp của sở ngành Tp.HCM. Với những trại viên không còn sức lao động (già, trẻ em, tàn tật) được trợ cấp xã hội 180.000 VNĐ/tháng, còn đối tượng còn sức lao động được trợ cấp 150.000 VNĐ/tháng. Ngoài ra trung tâm cũng tự thân vận động sự giúp đỡ từ nhiều quỹ hỗ trợ cộng đồng khác để xây dựng cơ sở được tốt hơn và mở rộng để tiếp nhận những người mới.

Mỗi năm, công an phường xã trên Tp.HCM tập hợp các đối tượng xã hội cần sự bảo trợ (trẻ em lang thang, người già cơ nhỡ, thanh thiếu niên bụi đời …) phân loại và đưa về các trung tâm bảo trợ, trong đó có Chánh Phú Hòa.

Trong gần 1200 trị viên thì có đến 800 là đối tượng người già. Mà hầu hết trong số này thì lại không còn thân nhân (có thể không nhớ hay vì lý do gì đó không muốn khai báo). Có nhiều cụ do tuổi già, trí nhớ sao lãng đi lạc gia đình không nhớ địa chỉ về, nên họ đành lòng sống lại nơi đây. Cụ Nguyễn Thị Hai là một người như vậy, gặp người lạ là cụ cứ lại hỏi xem có biết nhà cụ hay không, nhưng những gì cụ nhớ về gia đình mình thì chỉ là những thông tin chung chung; nơi đó có chùa, “tôi hay đi chùa lắm, hết mười đồng xe ôm thôi à, đưa tôi về lại chùa, tôi sẽ tự bắt xe ôm về”…

Mỗi tháng trung tâm đều đến từng trại hỏi xem có trại viên nào muốn hoàn gia, trung tâm sẽ xem xét và tạo điều kiện cho họ (xác minh, thư từ, điện thoại, viết thư bảo lãnh…) nhưng hầu hết chỉ có một số ít về lại với gia đình. Do địa chỉ không nhớ chính xác. Cũng có những trại viên khi về với gia đình, nhưng gia cảnh khó khăn quá và họ lại quay vào lại.

Một lá thư gửi về gia đình, mong được gia đình lên đón về nhà, nhưng đã bị gửi trả lại vì địa chỉ người thân không còn nhớ chính xác.

Cũng có những cụ do con cháu đối xử bạc bẽo mà bỏ nhà đi rồi được đưa vào đây. Với họ, họ chỉ biết khóc cho số phận. Họ không mong ngày về lại với gia đình. Có bà cụ khi vào đến đây vẫn còn bị con cháu tranh nhau cầm giấy tờ nhà vào đòi cụ ký giấy sang nhượng lại quyền sử dụng nhà trong khi đó lại không chăm sóc cho cụ một ngày nào, … Thật đau lòng, cụ nói “tao chửi chúng nó một trận, rồi bảo; tao chết tao để lại nhà cho trung tâm này, chứ không để cho lũ sống bạc bẽo với tao thế”.

Ở đây có hiện tại có tất cả 31 dãy nhà dài, mỗi dãy là những đối tượng khác nhau, được phân loại theo giới tính, độ tuổi và tình trạng sức khỏe: khu người già, Khu trẻ em và các bà mẹ (các bà “mẹ bồng con” - những phụ nữ mang bầu lang thang được đưa vào đây sinh nở và có thể ở lại trung tâm), Khu các người tàn tật (tàn tật thể xác), Khu đối tượng bị bại não (mất khả năng nhận thức) và khu khác dành cho những người còn sức lao động nhưng vô gia cư.

Những người đáng thương nhất là những đứa trẻ bị bại não, nhìn những khuôn mặt ngơ ngác, đôi lúc tự cười, rồi tự hét toáng lên làm người khác hoảng hốt, ai cũng thấy chạnh lòng cho mấy em. Khu dành cho những trẻ em này cũng còn gọi là khu “không giờ giấc”, ngủ, nghỉ, chơi.. bất kỳ giờ nào. Nếu tình trạng bệnh ngày cành nặng thì các em có thể đưa đi nơi khác, những trung tâm chuyên biệt hơn về bệnh này.

Thầy! - đang dẫn chúng tôi đi thăm trung tâm

Chú Liêm vừa là phó giám đốc vừa làm cán bộ quản lý khu người già, chú còn là người hướng dẫn các cụ tập dưỡng sinh vào buổi sáng. Chú đã gắn bó với trại này từ những ngày đầu thành lập. Nhà ở Tp HCM, cuối tuần về thăm nhà một lần, suốt 30 năm nay cuộc sống của chú vẫn thế, đi đi lại lại giữa hai nơi, gắn bó với những con người có hoàn cảnh kém may mắn. Những trại viên nơi đây thấy chú xuống thăm đều gọi “thầy ơi”, lớn bé gì cũng gọi vậy, ngay cả những đứa trẻ thiểu não cũng nhớ gọi “thầy vào chơi với chúng con”.

Với những người còn sức lao động, ban ngày họ cũng được làm việc bình thường như cạo vỏ hạt điều, trồng rau, nuôi lợn… đây cũng là cách để tăng thêm thu nhập cho cuộc sống của họ. Với những người còn trẻ họ có thể được trung tâm hướng dẫn học nghề và khi thành thạo thì họ có thể xin ra khỏi trung tâm để tự lo cho cuộc sống của mình, giảm bớt gánh nặng cho xã hội.

Những trẻ em đang đến tuổi đi học được trung tâm tạo điều kiện cho đi học ở bên ngoài. Những em có khả năng học tập, trung tâm vẫn cố gắng để cho họ theo học lên cao để sau này có thể trở lại giúp đỡ trung tâm. Có em đã và đang học đại học, có người cũng đã được kết nạp đảng.

Đây là khu của các cụ bà, đây cũng là khu hoạt náo, có những cụ bà cũng rất khó tính… nhưng nói chung họ vẫn cố gắng để hỗ trợ nhau trong cuộc sống hằng ngày.

... còn tiếp

Nguyên Liên

Như chưa hề có cuộc chia ly... số 01

Hình hiệu chương trình



Bạn có thể download về: download now

Cô Phạm Minh Nghiêm tìm con gái Phạm Minh Phương



Chị Phương đi sang Đức cùng chồng và con trai, đến năm 1992 thì không còn tin tức về gia đình. Cô Minh Nghiêm đã chờ đợi tin con gái mình suốt 15 năm nay.

Tìm em Cúc


Bác Đặng Sự muốn tìm cô em gái năm xưa tên Cúc nhà ở Bùi Chu - Phú Nhai.

  © Blogger template 'A Click Apart' by Ourblogtemplates.com 2008

Back to TOP