Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say...
Không biết người xứ Quảng say trong những chén rượu Hồng Đào đến nối họ quên mất là mình uống thứ rượu gì, mà có dạo người ta kéo nhau lên báo để bàn cái về chuyện có hay không loại "rượu Hồng Đào".
Hay vì "cãi" là tính cách vốn có trong mỗi con người nơi đây, như câu ca dao đúc kết lại,
Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo
Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết...
Nhưng dù gì đi nữa, dù rượu Hồng đào chỉ là phút ngẫu hững của ai đó khi muốn làm một vế đối hoàn chỉnh, có quảng Nam thì phải có rượu Hồng Đào. Thì những người dân chân chất của đất Quảng Nam vẫn có bí quyết riêng để tạo ra thứ rượu dân dã, và tội gì lại không mượn cái tên mỹ miều và mời gọi để đặt tên cho thứ rượu mình làm ra: Hồng đào.
Đất Quảng, cái xứ cả năm báo chí nhắc tới không có mấy tin hay, chỉ toàn về những cơn bão kinh hoàng của vùng nhiệt đới. Thiên nhiên khắc nghiệt đã góp phần tạc nên những tính cách mà người vùng miền khác gọi là khô khô, hanh hanh như thời tiết vùng này.
Ngồi bên thềm nhà nhìn ra cửa biển, cái nắng trưa oi nồng lẫn vị mặn từ ngoài biển xa thổi vào, ông cụ như một chủ thể để bất cứ một nhà nhiếp ảnh nào dù là nghiệp dư cũng có thể khai thác. Cái nhìn khắc khoải, trầm ngâm như một hình ảnh "truyền thống" của những người con người miền biển.
"Mi đi lâu rứa mới về, ngồi uống với tao cái hỉ". Cái giọng khô như nắng chiều của ông cụ gọi tôi, Ông nhớ mặt tôi, bởi hồi đó tôi thường chạy qua chơi với cậu con trai út nhà ông.
Chén rượu trắng được rót ra từ cái chai, vốn là cái vỏ bia Sài Gòn màu đỏ nâu, cụ mua về từ nhà chị Mắm (không có ý xúc phạm gì, cái tên này tụi trẻ ở cái xóm chài này hồi xưa chúng tôi vẫn gọi là chị Mắm, vì chị gầy lắm, mẹ chị vẫn gọi vậy mà). Hồi trước nhà chị làm cá cơm phơi khô, cái dáng người gầy guộc đảo mình trong nắng bên những bạt trải đầy cá cơm, lũ trẻ con chúng tôi chạy qua lại vô tư chọc "chị Mắm ơi sao chưa lấy chồng"! Đừng nghĩ chị hiền dịu mà cười bỏ qua, trăm lần, lần nào chị cũng chống tay chửi bằng những từ rất Quảng. Còn giờ đây, chị Mắm nấu rượu, bán rượu. Và những người như ông cụ gọi là rượu Hồng Đào..
Cụ lân la hỏi chuyện gần, chuyện xa, thi thoảng lại nhắc lại những chuyện cũ, mà đa phần là tôi cũng không biết. Xa cái miền cát trắng, mỗi hạt cát mịn như hạt muối xay, đã được 23 năm. Những ký ức trong tôi về nơi này là những hình ảnh của một đứa trẻ tuổi lên 12. Mà cũng có gì đâu để nhớ nhiều. Tứ bề, thì có hai bề là biển xanh, hai bề còn lgại là những cánh đồng còi cọc, một chút xanh leo lét trong cái trắng của cát. Trên cao không trời xanh gắt thì cũng là những đám mây đen hãi hùng của những đợt biển nổi gió.
Nè, mày nhìn bàn thờ xem. Thằng Tuấn nhà ni, nó đi trước cả tao. Nó đi thuyền giỏi dữ lắm, vậy mà cũng bị biển đưa đi. Nó mới đi cách đây 2 đợt báo đó. Vợ nó ban ngày thì đi làm cá thuê cho họ, đêm về thì ra ngồi chờ trước biển đợi nó về, mà nó có thèm về đâu.
Vợ Tuấn cũng chẳng phải xa lạ lắm, Thúy chứ ai. Tôi, Thúy và nó (Tuấn) chơi thân với nhau từ nhỏ, bởi nhà ba đứa liền kề nhau. Nhưng lúc nãy gặp Thúy ngoài bãi cá khô thì tôi không thể nhận ra ngay được, rám nắng và đen hẳn so với hồi con gái 16, lúc mà nhà tôi rời nơi này vào tỉnh lị. Tin Tuấn mất tôi cũng đã biết từ mẹ tôi, sau lần bà về thăm quê.
Già nhanh thật, phải không mày!
Ai ạ? buột miệng tôi thốt lên khi nghe ông cụ hỏi.
Thì vợ thằng Tuấn, Thúy đó. Tội nó, mới ba mấy mà đã góa rồi. Tao có an ủi nó đi lấy thằng nào đi cho đỡ nhọc. Nó chỉ khóc. Mà cũng còn thằng đàn ông nào trong xóm phải lứa với nó mà độc thân đâu. Năm về trên đất được mấy bận rồi lũ nó lại đi. Đi về biển hết rồi, sống cũng đi, chết cũng đi.
Tẩn ngẩn những câu chuyện không đầu không đuôi, chén rượu Hồng Đào của ông cụ vẫn chưa đưa được lên môi. Cõ lẽ đã lâu rồi ông không nhâm nhi cùng ai, không còn thằng Tuấn về kể cho ông những chiến công, những lúc vượt qua những cơn giông mà tử thần giăng lên ở biển khơi mịt mùng ... Những câu chuyện mà hồi còn nhỏ tôi vẫn thường ngồi nghe ké mấy anh trai trong xóm chài kể sau những chuyến đi dài ngày.
Mẹ tôi ngày trước cũng hay đi nghe ké bà con lối xóm và về kháo chuyện với ba tôi, ba tôi không đi biển, ông đi làm xa trên tỉnh cuối tuần về một lần. Mỗi lần có giông bão mẹ tôi cùng tôi đều chạy theo chân những người phụ nữ có chồng con đi biển ra ngoài "bãi đợi". Cái bãi ấy chẳng biết nó mang cái tên "bãi đợi" từ thuở nào, chỉ biết nó là nơi chứng kiến nhiều nhất những vui và buồn, hạnh phúc và khổ đau của cả làng chài này.
Và Thúy, Thúy cũng ra đợi Tuấn nơi này như những người đàn bà khác có chồng đi biển. Đã có người đàn bà góa điên, góa dại vì đợi chờ, vì hy vọng. Hy vọng lúc biển bình yên sẽ thấy chồng, thấy con quay thuyền về. Mà đã bao nhiêu đêm Thúy ngồi đợi!?. Thúy đợi, đợi cho đến sáng, đợi cho đến phờ phạc thân xác, đợi đến nỗi soi gương Thúy cũng không nhận ra mình sao. Mà đợi như vậy thì liệu Thúy có đợi đến già được không nhỉ?.
Thúy không buồn nói chuyện, gặp lại tôi thúy chỉ khẽ gật đầu. Cái ánh mắt tôi gặp hồi chớm trưa, một cái nhìn sâu, sâu lắm.
…
Chiều nay tôi đi biển, đi ra cái đỉnh núi chôn chân mình dưới biển, chỉ nhô cái phần đầu lên khỏi mép nước mười mấy thước. Cụ bảo cụ nhớ nó, nhớ cái hòn đảo nhỏ nhỏ ấy, nhưng cụ không dám ra đó một mình vì già rồi. Hôm nay tôi về cụ rủ tôi ra.
Đã bao lâu rồi cụ chưa ngồi lên con thuyền này, những chỗ ghép ván đã có khe hở. Vừa đẩy ra đến mép nước đã thấy vài chỗ nước rỉ vào trong, thế là cụ lật đật chạy vào kiếm nhựa đường ra đắp. Còn tôi cũng theo cụ vào mang cái đèn pin và cần câu cái lưới giăng cũ, cụ bảo ra đến đảo giăng vài con cá nhỏ về tối lai rai. Chắp vá xong con thuyền lúc mặt trời cũng đã nằm nghiêng về phía trời Tây.
Tôi chèo chống không giỏi gì, có mấy lần duy nhất được ngồi trên chiếc thuyền thúng cùng máy đứa bạn mà từ hồi còn nhỏ kia. Sau một hồi giành mái chèo mà con thuyền cứ lòng vòng qua bên trái rồi lại bên phải tôi đành để cụ chèo. Đẩy cho tôi cái đòn (cái ghế nhỏ), ông cụ ngồi thoắt lên đầu mui thuyền. Cụ vẫn còn khỏe, hay vì nếp da trần đỏ nâu dưới nắng làm tôi nghĩ vậy. Con thuyền nhẹ lướt đi, hướng về phía hòn đảo nhỏ.
Biển lặng, lặng lắm. Vì gió chưa về rủ những con sóng ngầm nổi lên. Và dân làng chài yêu biển những lúc này. Giá như lúc nào biển cũng bình yên như thế.
Phút ngẫu hững ấy, ông cụ bỗng buột miệng hò, câu hò quen thuộc của người dân chài xứ Quảng. Thú thật ông hò không hay, không hay một chút nào bởi cái giọng khô khan lẫn trong cái mùi nước biển nồng nồng ngây ngấy ấy, nhưng tôi lại thấy mủi lòng. Như cảm thấy đôi mắt đen nháy của ông nhíu lại vì ánh nắng chiếu ngược như đang muốn khóc …
Rồi con thuyền cũng gần cập vào hòn đảo nhỏ, ông cụ nhanh tay thả lưới xuống gần bờ. Những đường rêu xỉn màu chạy dọc theo lối mòn trên đá tổ ong. Nơi đây có vẻ không có mấy người đặt chân đến. Bàn chân chai sần của ông cụ như không còn cảm giác với những vết cứa nhỏ của đá xám kia. Ông vẫn bước đi nhanh, len vào khe đá phía trong, tôi đoán chắc ông đang đi tìm cái gì đó. Không buồn hỏi, chỉ chú mắt xuống dưới chân theo bước ông cụ.
Tiếng gió thổi lèn vào trong những khe đá hẹp rồi đi ra cùng với những tiếng rít nhẹ, đôi khi cũng khiến rùng cả người.
Chết, chết rồi … Tiếng ông cụ kêu lên thất thần làm tôi suýt té.
Gì vậy cụ.
Cái cây!.
Ông lão chỉ vào cây mận bị đổ trước mặt, cái gốc nó bị bật lên khỏi lớp đất mỏng, rễ bị đứt đoạn để lại một phần dưới những khe đá, lá đã ngả màu vàng úa gần hết.
Đứng đờ người một hồi lâu ông cụ mới nói được.
Mới hồi trước đợt bão thằng Tuấn nó còn mang mấy quả mận về cho tao. Nó quý cái cây này lắm đó, vì đó là cái cây mà nó trồng lên từ lần đầu tiên nó ra đây cùng tao.
Giờ tôi mới hiểu những trái mận bí mật mà có lần Tuấn mang khoe với tôi hồi ấy chính là từ cái cây này. Ngồi bệt xuống bên gốc cây ông cụ tiếp tục câu chuyện bằng giọng buồn buồn… có lúc nghe sao…
Khi cái cây nẩy mầm, mỗi khi biết tao ra đảo này nó đều đi đào một bao đất để mang ra đây vun vào rễ cây. Nó chăm cái cây lắm. Sau những lần bão nó đều đòi ra để xem cái cây có bị sao không.
Chắc cái cây bị quật ngã cùng trong đợt bão thằng Tuấn mất tích, đã bao nhiêu giông bão mà cái cây chưa hề một lần nghiêng. Nhưng đợt rồi bão lớn dữ lắm….
Cõ lẽ đó là lần đầu tiên nó không ra đây để xem cái cây có bị giông bão quật đổ hay không?
Ông cụ bỗng đứng bật người dậy đi về phía hốc đá gần đó, hình như có mảnh vải …
Gì nữa vậy cụ?!
Cái áo của thằng Tuấn mi ạh…
Ông cầm lên cái áo màu xanh xám bạc thếch, xỉn màu vì nắng gió và mồi hôi của người đi biển …
Chắc thằng Tuấn cởi ra vứt đây để treo lên cây hái quả, cái thằng ni ….
Ánh mắt ông cụ cũng đã vội quay đi phía khác để che giấu giọt nước mắt đang khẽ lăn ra trong khóe mắt. Tay ông nắm chặt cái áo …
Tôi đã muốn ôm chầm lấy ông mà khóc cùng ông, bởi tôi cũng nhớ Tuấn, thằng bạn chí côt một thời của tôi…
Chỉ còn lại những tiếng bịt bùng bên tai, tiếng gió rít, tiếng nấc khô của ông hay tiếng Tuấn vọng về thì thầm với ông điều gì mà tôi không biết…

….
Ta đi nhấc lưới rồi về chứ cụ...
Ánh sáng đã nhá nhem đôi ít trong cái hẻm đá này, tôi cố nói điều gì giục ông khỏi cái cảm giác buồn não lòng ấy. Ông thẫn thờ bật đèn pin lên soi xuống mặt đá, nhặt lên một hột mận khô, ông vùi nó xuống đống đất gần nơi gốc cây bị bật lên. Vâng, tôi biết ông đang hy vọng… hy vọng cái cây nó sẽ lớn nhanh để thay cái cây đã đổ. Để ông còn được ra thăm nó … Tôi hiểu ông cũng hy vọng, hy vọng ở một nơi nào đó giữa biển khơi xa xa kia Tuấn vẫn còn sống, trên một hòn đảo hoang cũng được… để một ngày nào ông sẽ ra đón… Và ông, ông không ngóng đợi cho riêng ông, ông ngóng đợi cho cả người con dâu bất hạnh. Mà biết đâu giờ này Thúy cũng đang ngồi ngoài “bãi đợi”.
Chiếc thuyền mộc rời hòn đảo cùng vài con cá nhỏ. Ông cụ lại ngồi lên mui thuyền, cúi xuống dưới gầm lấy chai rượu, rượu Hồng đào. Không ly, không chén, ông uống một ngụm rồi đưa tôi. Cái vị cay xè the the đầu lưỡi thẫm vào máu.
Lạnh, một chút lạnh trong gió biển đến ngang qua.
…
Nguyên Liên (ký sự một lần ghé về làng chài cũ)
(Nhưng từ địa phương trong bài này đã được chuyển gần hết qua tiếng Việt chuẩn)